1. Luật Giám định tư pháp 2025 số 105/2025/QH15 ngày 05/12/2025 (“Luật Giám định tư pháp 2025”)
Luật Giám định tư pháp 2025 có hiệu lực từ ngày 01/05/2026, được xem như bước ngoặt đánh dấu bước cải cách toàn diện, đặc biệt là nâng cao chủ trương xã hội hóa, nhưng vẫn tuân thủ lộ trình và đảm bảo được sự kiểm soát chặt chẽ về chất lượng trong hoạt động giám định. Cụ thể:
Luật đã mở rộng danh mục các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động giám định tư pháp như cấm lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng hoặc để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng.[1] Có thể thấy, quy định này là một trong những phản ánh minh thị nhất của thực tiễn quá trình tố tụng.
Luật Giám định tư pháp 2025 bổ sung cơ chế đình chỉ thực hiện giám định khi không cần kết luận giám định tư pháp để giải quyết vụ việc.[2] Luật cũng quy định rõ các trường hợp từ chối thực hiện giám định, không thực hiện giám định[3] nhằm tránh lãng phí nguồn lực và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan.
Một trong những bước tiến quan trọng là việc rút ngắn thời hạn giám định tư pháp, cụ thể: (i) Đối với lĩnh vực tố tụng hình sự, sẽ ưu tiên tuân thủ khung thời gian của pháp luật tố tụng hình sự nhằm hạn chế xung đột về thời hạn giám định với các thời hạn khác, điển hình như trường hợp thời gian chờ kết quả giám định kéo dài hơn thời hạn tạm giam dẫn đến khó khăn cho cơ quan tố tụng và ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can trong vụ án; (ii) Đối với các trường hợp còn lại: tối đa là 02 (hai) tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ,[4] trường hợp có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì tối đa là 03 (ba) tháng; trường hợp có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng đặc biệt lớn thì tối đa là 04 (bốn) tháng.[5]
Luật Giám định tư pháp 2025 đã ghi nhận cơ chế loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm cho người giám định tư pháp trong hoạt động giám định, quy định này nhằm khuyến khích các chuyên gia đảm nhiệm công việc giám định mà không phải lo ngại về rủi ro pháp lý không đáng có. Luật cũng cho phép các giám định viên tư pháp được tham gia thành lập, làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại văn phòng giám định tư pháp, hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức.[6]
Bên cạnh đó, Luật Giám định tư pháp 2025 bổ sung thêm các lĩnh vực hoạt động của văn phòng giám định tư pháp như: kỹ thuật hình sự, pháp y (ADN), tài chính, ngân hàng, xây dựng…[7]; và mở rộng thẩm quyền, năng lực của tổ chức giám định công lập nhằm đảm bảo tính độc lập và chuyên biệt của lực lượng giám định trong hệ thống tư pháp nhưng vẫn phát huy tối đa nguồn lực xã hội.
2. Nghị định 102/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 sửa đổi Nghị định 75/2019/NĐ-CP (“Nghị định số 75”) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh (“Nghị định số 102”)
Nghị định số 102 có hiệu lực từ ngày 20/05/2026 nhằm sửa đổi một số điều của Nghị định 75/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh, với nhiều điểm đáng chú ý, đặc biệt là trong hoạt động tập trung kinh tế. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, siết chặt và nâng mức phạt tiền. Theo đó, Nghị định 102 điều chỉnh quy định theo hướng nâng mức phạt tiền trong trường hợp tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm bằng 0; đồng thời, mở rộng phạm vi xử lí vi phạm các quy định về tập trung kinh tế, theo đó bao gồm cả trường hợp tập trung giữa các doanh nghiệp không có quan hệ cạnh tranh, không tham gia các công đoạn khác nhau trong cùng chuỗi sản xuất, phân phối hoặc cung ứng và không có mối quan hệ đầu vào hoặc bổ trợ cho nhau.[8] Quy định trên đã phần nào thể hiện chủ trương siết chặt hành lang pháp lý của Nhà nước đối với thị trường cạnh tranh trong giai đoạn hiện tại.
Nghị định quy định rõ nguyên tắc xác định tổng doanh thu trên thị trường liên quan đối với doanh nghiệp hoạt động ở nhiều công đoạn trong chuỗi sản xuất, kinh doanh, theo đó, tổng doanh thu được tính trên toàn bộ các thị trường liên quan đến hành vi vi phạm.[9] Quy định này không chỉ đảm bảo tính minh bạch của thị trường cạnh tranh, mà còn hạn chế thực trạng chia tách hoạt động để phân chia doanh thu nhằm né tránh các chế tài theo quy định cũ.
Đáng chú ý, Nghị định 102 khá chú trọng điều chỉnh các quy định đối với lĩnh vực tập trung kinh tế. Đối với hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động tập trung kinh tế, thay vì xác định mức phạt tiền dựa trên tỷ lệ phần trăm doanh thu, Nghị định 102 đã chuyển sang quy định các mức phạt cố định tùy từng quy mô.[10] Hơn nữa, Nghị định 102 bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện đầy đủ các điều kiện đã cam kết trong quyết định về tập trung kinh tế có điều kiện; buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập hoặc hợp nhất; buộc bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản mà doanh nghiệp đã mua…[11] Có thể thấy, không chỉ dừng lại ở việc thay đổi các con số, Nghị định 102 thể hiện rõ tư duy quản lý minh bạch và chế tài phù hợp hơn đối với các hành vi có khả năng lũng đoạn thị trường. Về phía doanh nghiệp, việc đưa ra con số cụ thể giúp doanh nghiệp đánh giá được rủi ro pháp lý đối với các thương vụ sáp nhập, liên doanh để đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp.
Nghị định 102 cũng siết chặt trách nhiệm cung cấp thông tin trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh nhằm tăng trách nhiệm cung cấp thông tin. Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung các hình thức nộp phạt theo hướng thuận tiện hơn như: nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp tiền mặt, chuyển khoản vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước.[12]
Những quy định mới tại Nghị định 102 không chỉ đơn thuần là việc hoàn thiện khung pháp lý, mà còn giúp củng cố quá trình xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh trong tương lai.
3. Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP ngày 07/04/2026 cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh (“Nghị quyết 66.16”)
Nghị quyết 66.16 có hiệu lực từ ngày 15/04/2026 đến hết ngày 28/02/2027 với nhiều quy định nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và các quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nghị quyết 66.16 đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính và các quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 13 Bộ và Ngân hàng Nhà nước.[13]
Đáng chú ý là các quy định rút ngắn thời gian cấp giấy phép đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; Giảm điều kiện đối với doanh nghiệp đưa lao động đi đào tạo nghề ở nước ngoài; Bỏ yêu cầu nghiệm thu phòng cháy chữa cháy với một số dự án điện mặt trời mái nhà; Bỏ giấy đăng ký kinh doanh trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm…
Đặc biệt, Nghị quyết 66.16 cho phép sử dụng VNeID để đăng ký tham gia kết nối với Hệ thống một cửa quốc gia và bổ sung hồ sơ đăng ký thuế khi sử dụng số định danh cá nhân. Có thể thấy, những quy định tại Nghị quyết 66.16 mang tính hội nhập cao, giúp đồng bộ quá trình giải quyết hồ sơ và giảm đáng kể thời gian, phí, lệ phí cho cá nhân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục.
[1] Điều 9 Luật Giám định tư pháp 2025
[2] Điều 36 Luật Giám định tư pháp 2025
[3] Điều 38 Luật Giám định tư pháp 2025
[4] Khoản 3 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025, Khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp số 56/2020/QH14
[5] Khoản 2 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025
[6] Điều 12 Luật Giám định tư pháp 2025
[7] Khoản 2 Điều 20 Luật Giám định tư pháp 2025
[8] Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 102
[9] Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 102
[10] Điều 5, Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 102
[11] Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 102
[12] Điều 15 Nghị định số 102; Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 20 Nghị định 118/2021/NĐ-CP
[13] Chương II Nghị quyết 66.16

