DL & PartnersDL & Partners

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Luật sư
  • Lĩnh vực chuyên môn
    • Đầu tư nước ngoài
    • Mua bán & sáp nhập doanh nghiệp
    • Thị trường vốn/ Chứng khoán
    • Bất động sản & xây dựng
    • Giải quyết tranh chấp
    • Thương mại quốc tế
    • Thuế
    • Lao động
    • Cạnh tranh
    • Truyền thông và giải trí
  • Ấn phẩm
  • Tuyển dụng
  • Liên hệ
  • English
  • Русский

[QUÝ III/2026] CẬP NHẬT PHÁP LÝ – ĐỔI MỚI TƯ DUY QUẢN LÝ THUẾ TRONG THỜI ĐẠI SỐ CÔNG NGHỆ SỐ

by DL & PARTNERS / Thứ Năm, 27 Tháng Tám 2026 / Published in Cập nhật pháp luật

Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (“Luật QLT 2025”)

Luật QLT 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, hướng đến số hóa và hiện đại hóa công tác quản lý thuế trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế với một số điểm đáng lưu ý:

Thứ nhất, Luật QLT 2025 mở rộng đối tượng nộp thuế sang nền tảng số, cụ thể, cá nhân, tổ chức nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam hoặc kinh doanh qua nền tảng TMĐT, nền tảng số khác cũng thuộc phạm vi quản lý thuế.[1] Đồng thời, chủ quản của các nền tảng công nghệ số nếu có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán, có trách nhiệm khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế cho cá nhân và hộ kinh doanh hoạt động trên nền tảng của mình.[2] Quy định này nhằm bao quát nguồn thu từ nền kinh tế số và hạn chế thất thoát ngân sách nhà nước trong khoản thu từ các giao dịch xuyên biên giới trong thời đại hội nhập như hiện nay.

Nhằm phục vụ những thay đổi trên, cải thiện hiệu quả quản lý thuế và tăng tính minh bạch trong thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến, Luật đẩy mạnh ứng dụng công nghệ qua việc yêu cầu hệ thống thông tin quản lý thuế tự động tạo tờ khai, bù trừ số nộp thừa, hoàn thuế và miễn/giảm thuế;[3] người nộp thuế phải nộp theo mã định danh khoản phải nộp (nếu có) và đảm bảo kết nối điện tử với cơ quan thuế.[4] Công tác kiểm tra thuế ưu tiên phương thức trực tuyến, từ xa, áp dụng quản lý rủi ro và tránh chồng chéo với thanh tra, kiểm toán nhà nước.[5] Đây là một trong những quy định cụ thể hóa định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong công tác quản lý thuế, vừa rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, vừa đảm bảo tính minh bạch và giảm sai sót.

Đặc biệt, Luật QLT 2025 còn tăng cường sự tham gia của xã hội vào công tác quản lý thuế thông qua việc quy định rõ ràng những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế như: thông đồng, móc nối, bao che thực hiện hành vi chuyển giá, gian lận thuế…[6] Đồng thời, Luật còn đưa ra cơ chế khuyến khích người tiêu dùng lấy hóa đơn và khen thưởng người tiêu dùng tố giác hành vi không lập hóa đơn điện tử.[7]

Luật đồng thời bổ sung các biện pháp xử lý trường hợp không chấp hành nghĩa vụ thuế. Điển hình là bổ sung trường hợp hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh đối với cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ[8] nhằm hoàn thiện cơ chế thu hồi nợ thuế để đảm bảo ngân sách nhà nước.

Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (“Luật Thuế TNCN 2025”) được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09/2026/QH16 ngày 24/04/2026 (“Luật số 09”)

Luật Thuế TNCN 2025 có hiệu lực từ 01/07/2026, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 09 với nhiều cải cách lớn và chính sách ưu đãi thu hút lao động công nghệ cao, không chỉ tác động trực tiếp đến người lao động mà còn thúc đẩy phát triển thị trường đầu tư trong nước. Lưu ý, quy định về thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.[9]

Đáng chú ý, Luật mở rộng phạm vi thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng; từ kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) và nền tảng số…[10]; theo đó, thuế TNCN được tính bằng 0,1% giá chuyển nhượng.[11] Việc bổ sung quy định này thể hiện rõ cơ chế quản lý đang ngày càng siết chặt hơn nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa các kênh đầu tư.

Đi đôi với việc mở rộng phạm vi chịu thuế, Luật cũng mở rộng các khoản được miễn, giảm thuế để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn vốn đầu tư dài hạn, ví dụ như: miễn thuế 5 năm cho nhân lực công nghệ cao và công nghiệp công nghệ số chất lượng cao đáp ứng điều kiện Luật định[12]; miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở nắm giữ từ 02 (hai) năm trở lên; giảm 50% thuế đối với lợi tức từ một số quỹ đầu tư.[13]

Cùng với đó, Luật tiếp tục triển khai chủ trương phát triển kinh tế tư nhân với việc chính thức quy định cơ chế xác định thuế TNCN theo phương pháp kê khai thu nhập. Chính phủ được trao quyền quy định mức doanh thu miễn thuế TNCN;[14] và khi trên ngưỡng này, thuế suất áp dụng lần lượt là 15%, 17% và 20% của mức thu nhập chịu thuế (doanh thu trừ chi phí liên quan). Ngoài ra, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu năm đến 03 (ba) tỷ đồng vẫn được lựa chọn trực tiếp khai và nộp thuế theo cơ sở doanh thu nhân với loại thuế suất áp dụng cho loại hình kinh doanh cụ thể. Riêng cá nhân cho thuê bất động sản, trừ kinh doanh lưu trú, chịu thuế suất cố định bằng 05% trên phần doanh thu vượt ngưỡng quy định.[15]

Tiếp đến, Luật điều chỉnh các khoản giảm trừ nhằm phản ánh sát hơn thực tế an sinh – xã hội: bổ sung trường hợp giảm trừ thu nhập tính thuế đối với khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế, người phụ thuộc;[16] giảm trừ gia cảnh được duy trì ở mức (i) 15,5 triệu đồng/tháng cho đối tượng nộp thuế, (ii) 6,2 triệu đồng/tháng với mỗi người phụ thuộc.[17]

Bên cạnh đó, cần lưu ý mức biểu thuế lũy tiến từng phần mới đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:[18]

Bậc thuếThu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)Thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)Thuế suất (%)
1Đến 120Đến 105
2Trên 120 đến 360Trên 10 đến 3010
3Trên 360 đến 720Trên 30 đến 6020
4Trên 720 đến 1.200Trên 60 đến 10030
5Trên 1.200Trên 10035

Các quy định mới của Luật Thuế TNCN được kỳ vọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thời đại mới song song với đảm bảo cải thiện đời sống người dân trong nhiều khía cạnh, tuy nhiên, không chỉ cá nhân/người lao động, mà các doanh nghiệp, nhà đầu tư cần lưu ý rà soát các khoản thu phát sinh, cập nhật chính sách nhân sự, nhất là đối với vị trí thuộc nhóm nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao, xem xét lại các danh mục đầu tư và theo dõi các văn bản hướng dẫn chi tiết để áp dụng đúng và kịp thời.


[1] Điểm b và c Khoản 1 Điều 2 Luật QLT 2025

[2] Điểm a Khoản 4 Điều 13 Luật QLT 2025

[3] Điểm b Khoản 1 Điều 13, Khoản 2 Điều 15, Khoản 4 Điều 18, Khoản 3 Điều 19 Luật QLT 2025

[4] Điểm c và k Khoản 2 Điều 37 Luật QLT 2025

[5] Điểm a và d Khoản 1 Điều 22 Luật QLT 2025

[6] Điều 8 Luật QLT 2025

[7] Điểm g Khoản 5, Khoản 7 Điều 26 Luật QLT 2025

[8] Điều 17 Luật QLT 2025

[9] Khoản 1 và 2 Điều 29 Luật QLT 2025

[10] Điều 3 Luật Thuế TNCN 2025

[11] Điều 19 Luật Thuế TNCN 2025

[12] Khoản 2 và 3 Điều 5 Luật Thuế TNCN 2025

[13] Khoản 4 và 5 Điều 5 Luật Thuế TNCN 2025

[14] Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế TNCN 2025, sửa đổi bởi Điều 1 Luật số 09

[15] Khoản 2, 3 và 4 Điều 7 Luật Thuế TNCN 2025

[16] Khoản 2 Điều 11 Luật Thuế TNCN 2025

[17] Khoản 1 Điều 10 Luật thuế TNCN 2025

[18] Điều 9 Luật Thuế TNCN 2025

Chia sẻ:

  • Twitter
  • Facebook

Like this:

Like Loading...
  • Tweet

About DL & PARTNERS

What you can read next

[QUÝ IV/2021] CẬP NHẬT PHÁP LÝ
[QUÝ III/2019] CẬP NHẬT PHÁP LUẬT
[QUÝ I/2025] – CẬP NHẬT PHÁP LÝ

Leave a Reply Cancel reply

  • Tiếng Việt
  • English
  • Русский

© 2018 DL & Partners. All rights reserved.
Webmail

TOP
%d bloggers like this: