1. Luật Thương mại điện tử 2025 số 122/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (“Luật TMĐT 2025”)
Luật TMĐT 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 đã chính thức mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động livestream bán hàng và tiếp thị liên kết trên các nền tảng. Theo đó, người livestream bán hàng phải xác thực danh tính về định danh và xác thực điện tử trước khi bán hàng, phải cung cấp giấy phép kinh doanh, quảng cáo, không được cung cấp thông tin gian dối, và phải có tác phong phù hợp với thuần phong mỹ tục;[1] không chỉ người livestream, Luật còn quy định chủ quản nền tảng phải lưu trữ dữ liệu livestream bán hàng ít nhất 01 năm.[2] Đồng thời, người tiếp thị liên kết cũng phải định danh điện tử trước khi thực hiện tiếp thị và phải từ chối tiếp thị đối với các nội dung trái luật hoặc nội dung trái đạo đức, trái thuần phong mỹ tục.[3]
Trường hợp cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động TMĐT có hành vi vi phạm quy định, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả mà có khả năng bị xử phạt hành chính, chặn truy cập hoặc tạm ngừng chức năng giao dịch của nền tảng TMĐT, buộc thực hiện biện pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại hoặc bị xử lý hình sự.[4]
Bên cạnh đó, Luật TMĐT 2025 cũng điều chỉnh một số nguyên tắc hoạt động TMĐT tại Việt Nam của các nền tảng nước ngoài nhằm siết chặt hoạt động TMĐT có yếu tố nước ngoài, cụ thể: tùy vào loại nền tảng, chủ quản nền tảng có thể phải đăng ký với CQNN có thẩm quyền và thành lập pháp nhân tại Việt Nam hoặc ủy quyền cho một pháp nhân tại Việt Nam đại diện, trước khi nền tảng có giao diện tiếng Việt, tên miền “.vn” hoặc khi đạt ngưỡng giao dịch theo quy định.[5] Trường hợp điều ước quốc tế không cho phép yêu cầu thành lập pháp nhân, chủ quản nền tảng phải ủy quyền cho pháp nhân Việt Nam đại diện, ký quỹ tại ngân hàng tại Việt Nam và đáp ứng các điều kiện hoạt động TMĐT theo quy định.[6]
Có thể thấy, trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng số ngày càng tăng cao, việc đưa ra quy định cụ thể về hoạt động TMĐT là bước ngoặt trong việc hoàn thiện khung pháp lý toàn diện cho hoạt động TMĐT tại Việt Nam.
2. Luật Công nghệ cao 2025 số 133/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (“Luật CNC 2025”)
Luật CNC 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, tập trung vào xác lập chính sách, tiêu chí đối với công nghệ cao (CNC), công nghệ chiến lược (CNCL), với kỳ vọng hoàn chỉnh hệ sinh thái CNC trong tương lai.
Trước hết, Luật CNC 2025 đưa ra định nghĩa CNCL là công nghệ có tính đột phá, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ,[7] và khẳng định: phát triển CNC và CNCL là một trong các đột phá chiến lược của quốc gia, được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo pháp luật và chính sách Nhà nước.[8] Bên cạnh đó, Luật cũng quy định các tiêu chí chặt chẽ cho CNC và CNCL, trong đó tập trung vào vai trò đối với mục tiêu quốc gia, tác động kinh tế – xã hội, khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn, năng lực làm chủ công nghệ lõi và yêu cầu bảo đảm an ninh, quốc phòng.[9]
Luật CNC 2025 đã phân loại doanh nghiệp CNC theo hướng phân tầng dựa trên các tiêu chí về sản phẩm, dịch vụ, mức độ sở hữu công nghệ, quy mô đầu tư, doanh thu và tỷ lệ nội địa hóa,[10] với mức độ hưởng chính sách ưu đãi tăng dần: (i) doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC, (ii) doanh nghiệp CNC nhóm 2, (iii) doanh nghiệp CNC nhóm 1, và (iv) doanh nghiệp DNCL.[11]
Đáng chú ý, Luật CNC 2025 đưa ra điều khoản cụ thể về chuyển giao và thương mại hóa công nghệ; quy định về việc xây dựng và áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cơ chế chấp nhận rủi ro; đồng thời thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động CNC, CNCL để làm cơ sở điều chỉnh chính sách hỗ trợ, ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển đổi mới sáng tạo khoa học và CNC, nhưng vẫn phù hợp với thực tiễn Việt Nam.[12]
3. Luật Chuyển đổi số 2025 số 148/2025/QH15 ngày 11/12/2025 (“Luật CĐS 2025”)
Luật CĐS 2025 có hiệu lực ngày 01/07/2026 nhằm thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và thiết lập khung pháp lý toàn diện cho công cuộc chuyển đổi số (CĐS) với một số điểm mới đáng chú ý:
Các khái niệm cơ bản đã được “Luật hóa”, ví dụ như: “chuyển đổi số”, “hạ tầng số”, “Chính phủ số”, “kinh tế số”[13] nhằm thống nhất cách hiểu trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách CĐS. Trên cơ sở đó, Luật định hướng phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và nền tảng số theo hướng đồng bộ, an toàn, có khả năng kết nối và chia sẻ. Đồng thời, khuyến khích phát triển nền tảng số dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện CĐS, và đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực số.[14]
Với tinh thần trên, nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao cho CĐS trong khối nhà nước, Luật cho phép CQNN và DN nhà nước chủ động tuyển dụng chuyên gia, nhân sự trong và ngoài nước. Đồng thời, các cán bộ, công chức, viên chức làm công tác CĐS được áp dụng chế độ đãi ngộ đặc thù về thu nhập, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp.[15]
Đáng chú ý, Luật CĐS 2025 thúc đẩy xây dựng Chính phủ số thông qua việc yêu cầu các CQNN cung cấp dịch vụ công, quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành và giám sát trên môi trường số – với quy trình nghiệp vụ được số hóa phải tinh gọn, tăng cường tự động hóa và không yêu cầu cung cấp lại dữ liệu hợp lệ.[16]
Ngoài ra, Luật xác định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động CĐS,[17] và yêu cầu chủ quản các cơ hạ tầng số liên quan chủ động sàng lọc, phát hiện, thông báo, xử lý nhằm bảo vệ người sử dụng khỏi nội dung độc hại và không hợp pháp.[18]
4. Nghị định số 197/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/06/2026 (“Nghị định 197”)
Nghị định 197 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Nghị định số 55/2022/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (“CSDL”).
Theo đó, Nghị định 197 mở rộng phạm vi dữ liệu, bao quát toàn bộ quá trình tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết vụ việc.[19] Đi kèm đó là đề ra nguyên tắc ưu tiên khai thác, cung cấp thông tin trên môi trường điện tử thông qua cơ chế phân quyền, hạn chế việc cung cấp dữ liệu bằng văn bản;[20] và phải được thực hiện trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, trừ trường hợp cung cấp thông tin trực tuyến.[21] Đáng chú ý về mặt vận hành, Nghị định 197 thiết lập cơ chế lập hồ sơ điện tử và cấp “mã vụ việc” tự động, duy nhất và sử dụng thống nhất trong suốt quá trình giải quyết và lưu trữ.[22] Trên cơ sở mã vụ việc, người dân, tổ chức có thể tra cứu tình trạng xử lý vụ việc trên CSDL trong phạm vi quyền truy cập, và có thể nhận thông báo kết quả xử lý qua hệ thống điện tử, tin nhắn, email,….[23] Ngoài ra, công dân có quyền yêu cầu được cung cấp thông tin cá nhân của mình được thu thập và lưu trữ trong CSDL, và được yêu cầu cập nhật thông tin của mình nếu chưa chính xác.[24]
Trong quá trình tiếp nhận đơn, cá nhân, cơ quan phụ trách phải số hóa/nhập dữ liệu và cập nhật vào CSDL đối với cả đơn giấy và đơn qua bưu chính.[25] Quy định này nhằm khắc phục tình trạng thiếu cơ sở pháp lý khi tiếp nhận đơn, hạn chế việc người dân bị từ chối đơn chỉ vì không nộp dưới hình thức điện tử.
Bên cạnh đó, Nghị định 197 cũng quy định về cơ chế đánh giá hiệu quả thực hiện; kết quả đánh giá được dùng làm căn cứ xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. [26]
Trong giai đoạn chuyển đổi, hệ thống CSDL xây dựng theo Nghị định 55/2022/NĐ-CP vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến khi hệ thống mới vận hành chính thức, và việc chuyển đổi, kế thừa dữ liệu phải được hoàn tất trong thời hạn không quá 12 (mười hai) tháng kể từ khi hệ thống mới được vận hành trên toàn quốc.[27]
[1] ĐIều 22, 23 và 24 Luật TMĐT 2025
[2] Khoản 7 Điều 22 Luật TMĐT 2025
[3] Điều 26 Luật TMĐT 2025
[4] Điều 39 Luật TMĐT 2025
[5] Khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 27 Luật TMĐT 2025
[6] Khoản 5 Điều 27 Luật TMĐT 2025
[7] Khoản 2 Điều 3 Luật CNC 2025
[8] Khoản 1 Điều 4 Luật CNC 2025
[9] Khoản 1 và 2 Điều 5 Luật CNC 2025
[10] Điều 15 Luật CNC 2025
[11] Điều 15, Khoản 3 Điều 16 Luật CNC 2025
[12] Khoản 5 Điều 4, Điều 8, Khoản 4 Điều 16, Điểm b Khoản 2 Điều 19 Luật CNC 2025.
[13] Điều 3 Luật CĐS 2025
[14] Điều 9 Luật CĐS 2025
[15] Điều 18, Điều 19 Luật CĐS 2025
[16] Điều 31 Luật CĐS 2025
[17] Điều 5 Luật CĐS 2025
[18] Khoản 2 Điều 27 Luật CĐS 2025
[19] Điều 5, Điều 6 Nghị định 197
[20] Khoản 4 Điều 20 Nghị định 197
[21] Khoản 2 Điều 21 Nghị định 197
[22] Điều 13 Nghị định 197
[23] Khoản 4 Điều 13, Khoản 1 Điều 20 Nghị định 197
[24] Khoản 5 Điều 20 Nghị định 197
[25] Khoản 2, Khoản 3 Điều 10 Nghị định 197
[26] Điều 27 Nghị định 197
[27] Điều 30 Nghị định 197
