1. Nghị định số 108/2024/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở giao cho tổ chức có chức năng quản lý, kinh doanh nhà địa phương quản lý, khai thác (“Nghị định 108”).
Thực tiễn công tác quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở (“NĐLTSC”) đã được điều chỉnh bởi một số văn bản quy phạm pháp luật, nhưng tình trạng sử dụng lãng phí, không hiệu quả và trục lợi tài sản công vẫn còn tồn tại, gây thất thoát tài sản nhà nước.
Với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác khai thác NĐLTSC, Nghị định 108 ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/10/2024, đã thiết lập cơ chế quản lý, sử dụng và khai thác NĐLTSC, với những điểm mới sau:
Đầu tiên, Nghị định 108 cho phép NĐLTSC được cho thuê lại để sử dụng vào mục đích khác như sản xuất, kinh doanh; nhưng phải chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan được giao thực hiện nhiệm quản vụ lý tài sản công cấp tỉnh, để vừa giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương vừa đảm bảo được tính thống nhất trong công tác quản lý quỹ NĐLTSC. Theo đó, việc khai thác NĐLTSC nêu trên được thực hiện theo hình thức ghi tăng tài sản và giá trị tài sản không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp .
Tiếp đó, Nghị định 108 xác lập nguyên tắc của việc cho thuê NĐLTSC được thực hiện theo phương thức đấu giá, ngoại trừ các trường hợp hỗ trợ xã hội hoá, giá trị thuê dưới 50 triệu đồng/năm… sẽ áp dụng phương thức niêm yết giá . Rõ ràng, giá thuê được xác định thông qua đấu giá là phương án có khả năng thu được số tiền tối đa và cũng hạn chế được tình trạng nhập nhằng trong quản lý và khai thác NĐLTSC.
Theo Nghị định 108, thời hạn cho thuê NĐLTSC tối đa là năm (05) năm và có thể được gia hạn, riêng NĐLTSC tạm quản lý trong thời gian chờ xử lý thì thời hạn cho thuê tối đa là ba (03) năm. Có thể thấy, thời gian quy định trên khá phù hợp để đảm bảo hoạt động kinh doanh của bên thuê lại mà vẫn không quá dài để xác định lại giá thuê nhằm đảm bảo công tác quản lý NĐLTSC.
Bên cạnh đó, Nghị định 108 cũng quy định mẫu hợp đồng thuê NĐLTSC (“Hợp Đồng Mẫu”) nhằm thống nhất, đồng bộ công tác quản lý và giải quyết phần nào các vấn đề phát sinh trong quá trình cho thuê. Với kỳ vọng cân bằng lợi ích nhà nước và bên thuê lại, Hợp Đồng Mẫu quy định các nội dung về quyền của bên thuê lại như buộc bên cho thuê bồi thường thiệt hại nếu bên cho thuê có lỗi, phạt vi phạm hợp đồng. Đặc biệt, điểm mới có thể kể đến là Hợp Đồng Mẫu quy định việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại hoặc các vấn đề dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan . Như vậy, nếu phát sinh tranh chấp dân sự thì sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự; tức là, bên cho thuê – cơ quan đại diện nhà nước, là một bên trong tranh chấp dân sự thuần túy, hạn chế trường hợp áp đặt các quy định hành chính khi giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý về quy định chấm dứt hợp đồng do trường hợp bất khả kháng . Không đơn thuần là bên cho thuê như các quan hệ dân sự thông thường, bên cho thuê NĐLTSC còn là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, có nghĩa là, bên cho thuê có thể ban hành các chính sách ảnh hưởng đến NĐLTSC; và theo luật định, việc thay đổi chính sách pháp luật có khả năng được xem là sự kiện bất khả kháng . Để giải quyết vấn đề, bên thuê lưu ý, một trong những điều kiện mà sự kiện bất khả kháng phải đáp ứng là không thể lường trước được; theo đó, bên thuê NĐLTSC nên trao đổi vấn đề này trước khi giao kết hợp đồng để tránh trường hợp bên cho thuê đơn phương chấm dứt hợp đồng do sự kiện bất khả kháng phát sinh bởi chính quyết định của mình (hoặc cơ quan chủ quản) mà không chịu bất cứ chế tài nào.
Nhìn chung, về lý luận chung, Nghị định 108 ban hành với nhiều quy định nhằm góp phần hạn chế những bất cập còn tồn đọng, nâng cao hiệu quả quản lý NĐLTSC, tạo sự công bằng giữa lợi ích nhà nước và công dân trong quá trình khai thác NĐLTSC. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức khi đi vào thực tế; do đó, cần có sự phối hợp giữa nhà nước và công dân nhằm tối ưu hóa những kỳ vọng mà Nghị định 108 đang hướng đến.
2. Nghị định số 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội (“Nghị định 110”)
Có thể thấy, công tác xã hội (“CTXH”) tại Việt Nam là hoạt động nhân văn và có sức lan tỏa trong tòa xã hội. Tuy nhiên, thực tế đáng lo ngại khi thời gian gần đây, nhiều đối tượng lợi dụng CTXH để trục lợi, làm mất đi ý nghĩa nhân văn của CTXH và làm cho đối tượng yếu thế mất đi cơ hội tiếp cận sự chăm lo, giúp đỡ từ cộng đồng.
Trên cơ sở đó, Nghị định 110 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/10/2024, đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với lĩnh vực CTXH nhằm thúc đẩy CTXH phát triển, góp phần bảo đảm an sinh, công bằng xã hội và hướng đến mục tiêu ngăn chặn hành vi lợi dụng, trục lợi từ hoạt động CTXH.
Theo đó, Nghị định 110 đưa ra khá nhiều hình thức làm CTXH như: thông qua các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hoặc làm CTXH độc lập. Tuy nhiên, khi đã hành nghề CTXH, thì bắt buộc người hành nghề phải đáp ứng điều kiện về phẩm chất đạo đức, sức khỏe, chuyên môn và bắt buộc phải có giấy chứng nhận đăng ký hành nghề còn hiệu lực.
Đặc biệt, bên cạnh quy định các hành vi bị nghiêm cấm như: Cung cấp, công bố, tiết lộ, phá hủy thông tin, dữ liệu cá nhân của đối tượng mà không được sự đồng ý của đối tượng; Lợi dụng hành nghề công tác xã hội để trục lợi …; Nghị định 110 còn đưa ra chế tài vi phạm như bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hành nghề và chỉ có thể được xem xét cấp mới giấy chứng nhận sau 05 năm, kể từ ngày bị thu hồi. Đồng thời, trường hợp lợi dụng CTXH để chiếm đoạt tiền, tài sản của người khác, tùy vào tính chất và mức độ hành vi của vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt cao nhất là tù chung thân.
Nghị định 110 ban hành với chủ trương tạo điều kiện thuận lợi phát triển xã hội bằng tinh thần tương thân tương ái; đi đôi với nghĩa vụ phòng, chống hành vi “trục lợi tình thương” nhằm bảo vệ ý nghĩa cao đẹp của hoạt động CTXH.
3. Nghị định số 128/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (“Nghị định 128”)
Nghị định 128 có hiệu lực từ ngày 01/12/2024 với một số điểm mới như sau:
Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định 128 là quy định các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận, điển hình là các hình thức khuyến mại thông qua các phương tiện internet, điện tử và công nghệ thông tin, sẽ không bị áp dụng hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại . Rõ ràng, đây là một quy định nổi bật nhằm xúc tiến thương mại và nâng cao hiệu quả tiêu thụ.
Bên cạnh nâng cao hiệu quả tiêu thụ, ngăn chặn tình trạng thiếu hiệu quả trong khuyến mại cũng là vấn đề đáng lưu ý. Có thể thấy, hoạt động khuyến mại tập trung trước đây do cơ quan nhà nước chủ trì và chỉ được tổ chức trong một khoảng thời gian xác định, dẫn đến tình trạng một số chương trình kết thúc do hết thời hạn khuyến mại, nhưng hàng hóa vẫn tồn kho khá nhiều và không đạt được hiệu quả khuyến mại. Theo đó, Nghị định 128 đã loại bỏ quy định giới hạn thời gian tổ chức hoạt động khuyến mại tập trung nhằm giải quyết thực trạng nêu trên, và tăng sự linh hoạt của thương nhân đối với hoạt động khuyến mại.
Ngoài ra, thủ tục hành chính thông báo thực hiện khuyến mại cũng là một trong những bất cập trong hoạt động khuyến mại. Theo đó, Nghị định 128 đã đơn giản hóa thủ tục hành chính nêu trên. Cụ thể, khi thực hiện các hoạt động khuyến mại như: Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại; Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền; Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền; Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ…, thương nhân không cần thực hiện thông báo hoạt động khuyến mại.
Với tinh thần khắc phục bất cập còn tồn đọng, hướng đến cơ chế linh hoạt hơn nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động khuyến mại tập trung, Nghị định 128 đã đánh dấu bước tiến mới trong lĩnh vực thương mại, không chỉ tháo gỡ các rào cản về giới hạn giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại mà còn mở ra cơ hội để thương nhân chủ động thiết kế các chương trình phù hợp với thực tiễn kinh doanh, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững.
4. Nghị định số 135/2024/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ (“Nghị định 135”)
Nghị định 135 ban hành và có hiệu lực ngày 22/10/2024 với một số điểm mới nổi bật sau đây:
Trước đây, phạm vi điều chỉnh hoạt động liên quan đến điện mặt trời mái nhà (“ĐMTMN”) tập trung chủ yếu vào các hộ gia đình, gây hạn chế trong việc triển khai quy mô lớn và hợp tác phát triển đa bên. Để giải quyết tình trạng trên, Nghị định 135 đã mở rộng áp dụng cho đối tượng là cơ quan công sở, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh được đầu tư, xây dựng trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, Nghị định 135 cũng đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển ĐMTMN tự sản xuất tự tiêu thụ như: Miễn giấy phép hoạt động điện lực và không giới hạn công suất (trong trường hợp không đấu nối với hệ thống điện quốc gia, Lắp đặt hệ thống thiết bị chống phát ngược điện vào hệ thống điện quốc gia, Hộ gia đình hoặc nhà ở riêng lẻ có công suất dưới 100kW); Được hưởng chính sách ưu đãi về thuế; Được rút gọn thủ tục hành chính… Theo đó, việc đưa ra các chính sách nêu trên đã phần nào tối ưu hóa chi phí đầu tư, lắp đặt và vận hành cho các tổ chức, cá nhân tham gia ĐMTMN.
Nhìn chung, Nghị định 135 ban hành đã đáp ứng được phần nào mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp ngành điện trong và ngoài nước, gia tăng nhu cầu về năng lượng của người dân; đồng thời, thúc đẩy huy động nguồn lực xã hội và đầu tư nước ngoài tham gia vào việc phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo, góp phần hướng đến mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 để Việt Nam bắt kịp tiến trình phát triển xanh và bền vững của thế giới.
5. Nghị định số 117/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (“Nghị định 117”)
Nghị định 117 có hiệu lực từ ngày 15/11/2024, sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng liên quan đến đối tượng bị xử phạt và chế tài xử phạt trong các lĩnh vực như bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình… Cụ thể như sau:
Một trong những nội dung nổi bật tại Nghị định 117 là quy định: hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ bị phạt từ 15-20 triệu đồng . Theo đó, đây là quy định nhằm bảo đảm thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành tố tụng mà người dân cần lưu ý.
Bên cạnh đó, Nghị định 117 quy định trường hợp, luật sư sách nhiễu khách hàng; nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; lừa dối khách hàng tùy mức độ và tính chất vi phạm, sẽ bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam .
Ngoài ra, khi thực hiện thủ tục chứng thực chữ ký, cần lưu ý phải được chứng thực đầy đủ chữ ký của tất cả những người đã ký trong văn bản yêu cầu chứng thực chữ ký, bởi theo Nghị định 117, không chứng thực đầy đủ chữ ký trong trường hợp nêu trên được xem là vi phạm quy định về chứng thực bản sao từ bản chính, theo đó, văn bản đã chứng thực không thể sử dụng.
Theo đó, Nghị định 117 đã khắc phục phần nào những bất cập còn tồn đọng, góp phần hạn chế sai sót trong lĩnh vực được điều chỉnh. Theo đó, công dân cần lưu ý cập nhật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với hoạt động có liên quan trong các lĩnh vực nêu trên.
