DL & PartnersDL & Partners

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Luật sư
  • Lĩnh vực chuyên môn
    • Đầu tư nước ngoài
    • Mua bán & sáp nhập doanh nghiệp
    • Thị trường vốn/ Chứng khoán
    • Bất động sản & xây dựng
    • Giải quyết tranh chấp
    • Thương mại quốc tế
    • Thuế
    • Lao động
    • Cạnh tranh
    • Truyền thông và giải trí
  • Ấn phẩm
  • Tuyển dụng
  • Liên hệ
  • English
  • Русский

[QUÝ III/2025] – CẬP NHẬT PHÁP LÝ

by DL & PARTNERS / Thứ Ba, 30 Tháng Chín 2025 / Published in Cập nhật pháp luật

 1. Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 (“Luật Thuế GTGT 2024”)

Luật Thuế GTGT 2024 được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, bổ sung nhiều quy định nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, mở rộng cơ sở thu thuế và bảo đảm công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Một số điểm mới đáng chú ý bao gồm:

Thứ nhất, mở rộng đối tượng phải nộp thuế với quy định bổ sung các trường hợp giao dịch liên quan đến nền tảng số, cụ thể: (i) nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng kinh doanh thương mại điện tử, nền tảng số với tổ chức, cá nhân Việt Nam phải kê khai, nộp thuế; (ii) tổ chức tại Việt Nam mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay thuế; và (iii) tổ chức quản lý sàn thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng thanh toán phải khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh trên sàn[1]. Quy định mới này nhằm đảm bảo thu đúng và đủ thuế từ hoạt động kinh tế số, tạo sự bình đẳng giữa kinh tế truyền thống và kinh tế số.

Thứ hai, điều chỉnh đối tượng không chịu thuế GTGT. Theo đó, một số đối tượng không còn thuộc diện không chịu thuế GTGT như: phân bón, máy móc nông nghiệp, tàu đánh bắt xa bờ, một số dịch vụ kinh doanh chứng khoán; đồng thời, bổ sung nhóm hàng hóa phục vụ cứu trợ, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới… vào diện không chịu thuế GTGT[2] nhằm phản ánh đúng bản chất giao dịch.

Thứ ba, điều chỉnh quy định giá tính thuế. Luật Thuế GTGT 2024 xác định, giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu theo hướng thống nhất với Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bao gồm trị giá tính thuế nhập khẩu cộng với các loại thuế liên quan như thuế nhập khẩu bổ sung, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường.[3] Đáng chú ý, Luật mới quy định giá tính thuế bằng 0 đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại hợp pháp, tháo gỡ vướng mắc kéo dài trong thực tiễn kê khai thuế.[4]

Thứ tư, điều chỉnh khung thuế suất của một số đối tượng. Theo đó, Luật mới đã (i) mở rộng nhóm áp dụng thuế suất 0% như: vận tải quốc tế, công trình xây dựng ở nước ngoài hoặc trong khu phi thuế quan…; (ii) điều chỉnh một số sản phẩm không chịu thuế sang chịu thuế 5% để bảo đảm quyền khấu trừ đầu vào: phân bón, tàu khai thác thủy sản; (iii) điều chỉnh một số sản phẩm áp dụng thuế suất 5% sang 10% để thu hẹp ưu đãi: lâm sản chưa chế biến, đường và phụ phẩm, thoạt động văn hóa, triển lãm, điện ảnh…[5]

Ngoài ra, Luật Thuế GTGT 2024 đã từng bước hoàn thiện cơ chế khấu trừ và hoàn thuế GTGT, tăng cường tính minh bạch và kiểm soát gian lận thuế[6]. Đồng thời, Luật mới đã lần đầu tiên quy định các nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khấu trừ và hoàn thuế: mua bán hóa đơn, tạo lập giao dịch khống, làm sai lệch dữ liệu, thông đồng giữa doanh nghiệp và công chức thuế.[7]

2. Luật số 76/2025/QH15 ngày 17/06/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp (“LDN 2025”)

LDN 2025 được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 với một số quy định mới:

Bổ sung khái niệm và cơ chế quản lý đối với “chủ sở hữu hưởng lợi”, cụ thể: chủ sở hữu hưởng lợi được xác định là cá nhân có quyền sở hữu trên thực tế vốn điều lệ hoặc có quyền chi phối đối với doanh nghiệp, ngoại trừ người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.[8] Theo đó, khi thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải kê khai thông tin và đính kèm Danh sách chủ sở hữu hưởng lợi[9]. Quy định mới này nhằm minh bạch hóa hơn nữa cấu trúc sở hữu, phòng ngừa rủi ro rửa tiền, gian lận hoặc trốn thuế của doanh nghiệp – những kẽ hở còn tồn động trong khung pháp lý đã bị một số đối tượng lợi dụng để thu lợi bất chính trong thời gian qua, điển hình là trong đại án Trương Mỹ Lan.

Mở rộng đối tượng được tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp. Điểm đáng lưu ý, LDN 2025 cho phép một số các cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có quyền thành lập, quản lý, góp vốn vào doanh nghiệp[10] nhằm thực hiện theo chủ trương về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Sửa đổi, bổ sung liên quan đến trường hợp giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần. Cụ thể:

  • Trường hợp giảm vốn điều lệ theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, LDN 2025 không còn quy định công ty phải hoạt động liên tục 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập, mà chỉ cần tổng thời gian hoạt động đủ 02 năm trở lên (không tính thời gian đăng ký tạm ngừng kinh doanh)[11].
  • Bổ sung trường hợp công ty hoàn lại vốn góp cho cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại.[12]

Sửa đổi quy định trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo hướng mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm của người đại diện về cả dân sự, hành chính và hình sự (nếu có)[13].

3. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/06/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (“Luật số 85”)

Ngày 25/06/2025, Quốc hội thông qua Luật số 85 nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và khắc phục vướng mắc trong thực tiễn. Đáng chú ý trong lĩnh vực dân sự:

Xây dựng khung pháp lý nhằm thực tiễn hóa cải cách hệ thống Tòa án nhân dân (“TAND”) theo mô hình ba cấp, trong đó, quy định về TAND cấp khu vực mới. Cụ thể: TAND cấp khu vực sẽ kế thừa thẩm quyền và nhiệm vụ của TAND cấp huyện; nhiều vụ việc trước đây thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh được chuyển giao cho TAND cấp khu vực nhằm giảm tải áp lực của TAND cấp tỉnh[14]. Đồng thời, một số vụ việc đặc thù liên quan đến phá sản, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thì TAND cấp khu vực theo lãnh thổ tương ứng sẽ có thẩm quyền giải quyết. [15] Riêng đối với việc xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hoặc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, Tòa Kinh tế thuộc TAND Tp. Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh sẽ có thẩm quyền giải quyết theo phạm vi lãnh thổ tương ứng.[16]

Điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và hoạt động của TAND cấp tỉnh. Cụ thể, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. [17] Đặc biệt, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực.[18]

Những quy định về thẩm quyền theo cấp Tòa án mới cũng được áp dụng tương tự đối với lĩnh vực hành chính nhằm tạo sự thống nhất trong hệ thống Tòa án.

4. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 18/02/2025 về đăng ký doanh nghiệp (“Nghị định 168”)

Nghị định 168 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2025 với những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng một quy trình hoàn thiện về thủ tục thành lập doanh nghiệp, khai trình lao động, BHXH…

Theo đó, Nghị định cho phép doanh nghiệp nộp đồng thời nhiều thủ tục trong cùng một bộ hồ sơ, nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.[19]

Bên cạnh đó, Nghị định 168 nhấn mạnh các quy định về số hóa quy trình, thủ tục.[20] Việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp sẽ được tổng hợp dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu (“CSDL”) quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.[21] Đăng ký hộ kinh doanh cũng được khuyến khích số hóa, theo đó CSDL về đăng ký hộ kinh doanh cũng là một thành phần của CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.[22]

Ngoài ra, Nghị định 168 đã sửa đổi về các thành phần hồ sơ cần đóng dấu so với quy định trước đây như: hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không bắt buộc phải đóng dấu tại văn bản đề nghị đăng ký, biên bản họp…[23] Theo đó, doanh nghiệp lưu ý những điểm mới nêu trên để chuẩn hóa hồ sơ hợp lệ.

5. Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/05/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng 2024 (“Nghị định 104”)

Nghị định 104 chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2025 với một số điểm nổi bật như sau:

Mở rộng phạm vi áp dụng Luật Công chứng đối với viên chức ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự.[24]

Bổ sung quy định: văn phòng công chứng (“VPCC”) hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, VPCC có thể chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp tư nhân sang công ty hợp danh khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định về hoạt động và nghĩa vụ tài sản.[25]

Đặc biệt, Nghị định 104 đã cụ thể hóa phạm vi giao dịch được áp dụng công chứng điện tử (“CCĐT”) nhằm đảm bảo tính xác thực, tin cậy và an toàn thông tin mạng của hoạt động CCĐT, bao gồm: (i) CCĐT trực tiếp được áp dụng đối với tất cả các giao dịch dân sự; (ii) CCĐT trực tuyến được áp dụng với các giao dịch dân sự, trừ di chúc và giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương khác; (iii) Cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện CCĐT đối với các giao dịch công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.[26]

6. Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 07/08/2025 quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (“Nghị định 219”)

Trước nhu cầu thu hút chuyên gia và nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số, Chính phủ đã ban hành Nghị định 219 với mục tiêu tạo hành lang pháp lý thông thoáng, cải tiến thủ tục và rút ngắn thời gian cấp giấy phép lao động (“GPLĐ”) cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam (“NLĐNN”). Điển hình: (i) NLĐNN được các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận vào Việt Nam làm việc trong lĩnh vực tài chính, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và các lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội hoặc NLĐNN được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào Việt Nam thực hiện chuyển giao chương trình giáo dục quốc tế sẽ được miễn GPLĐ[27]; (ii) Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc xin cấp, gia hạn GPLĐ bằng cách lồng ghép nội dung “giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài” ngay trong bộ hồ sơ đề nghị[28]; (iii) Thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi GPLĐ, cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[29]; (iv) Cho phép NLĐNN đã được cấp GPLĐ có thể làm việc tại nhiều tỉnh, thành phố khác nhau (doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tại nơi dự kiến làm việc mới ít nhất 03 ngày làm việc trước khi NLĐ bắt đầu công việc)[30]

Đồng thời, Nghị định 219 bãi bỏ quy định về nghĩa vụ thực hiện báo cáo sử dụng NLĐNN định kỳ mỗi 6 tháng nhằm giảm bớt gánh nặng hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng NLĐNN.

7. Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/08/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (“Nghị định 226”) và Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/08/2025 quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 (Nghị định 230”)

Nghị định 226 chính thức có hiệu lực từ ngày 15/08/2025 với những quy định mới nổi trội liên quan đến giá đất, hỗ trợ tái định cư và quản lý sử dụng đất tại các dự án đầu tư. Cụ thể:

Về việc xác định giá đất: bổ sung cơ chế xác định giá đất dựa trên mặt bằng chung của các giá đất thu thập được từ các nguồn luật định, trừ nguồn dữ liệu từ cơ quan thuế nay không còn được sử dụng,[31] việc lựa chọn thông tin các thửa đất để so sánh được ưu tiên theo thứ tự khoảng cách gần nhất đến thửa đất cần định giá và không bị giới hạn bởi địa giới hành chính cấp xã trong cùng một tỉnh.[32] Quy định nêu trên đã mở rộng phạm vi dữ liệu so sánh, giúp việc định giá đất sát với tình hình thị trường hơn. Đặc biệt, Nghị định 226 bổ sung quy định: hợp đồng mua bán bất động sản hình thành trong tương lai sẽ không được tính là giao dịch chuyển nhượng trên thị trường khi định giá[33] nhằm giúp việc thu thập thông tin so sánh phản ánh đúng giá trị thuần của đất vào thời điểm cần xác định để đưa ra mức giá đất gần với giá trị thị trường thực tế nhất.

Về khung giá đất: Nghị định 226 bãi bỏ quy định về khung giá đất theo nghị định cũ, nhằm trao quyền tự chủ và trách nhiệm cao hơn cho các địa phương trong việc ban hành Bảng giá đất phù hợp hơn với giá trị thị trường thực tế, loại bỏ giới hạn trần giá đất; do vậy, việc tính toán các nghĩa vụ tài chính về đất đai và bồi thường khi thu hồi đất sẽ tiệm cận hơn với giá thị trường, góp phần tăng tính minh bạch và công bằng trong quản lý đất đai.

Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Nghị định 226 cho phép hộ gia đình được tự thỏa thuận và khai số nhân khẩu khi xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và phải chịu trách nhiệm đối với thông tin này.[34] Bên cạnh đó, các hộ gia đình, cá nhân sau khi bị thu hồi đất có thể được hỗ trợ đào tạo, tìm kiếm việc làm, giao đất hoặc bán, cho thuê cho thuê mua nhà ở.[35]

Nghị định 230 có hiệu lực từ ngày 19/08/2025 với một số quy định nhằm thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư và an sinh xã hội, ví dụ như: (i) Miễn tiền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân trong cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long và các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư; (ii) Giảm 30% tiền sử dụng đất hằng năm đối với các trường hợp sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; (iii) Miễn tiền thuê đất đối với trường hợp sử dụng đất để xây dựng trụ sở tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, cơ sở nghiên cứu khoa học…; (iv) Xem xét giảm tiền thuê đất tương ứng với thời gian bị thiệt hại đối với trường hợp bị chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất khả kháng.[36]

8. Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/09/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam (“Nghị quyết 05”)

Nghị quyết 05 có hiệu lực từ ngày 09/09/2025 đã thiết lập khung pháp lý kiểm soát chặt chẽ việc phát hành, giao dịch tập trung và cấp phép cho các tổ chức cung cấp dịch vụ đối với tài sản mã hóa:

Lần đầu tiên tài sản mã hoá (“TSMH”) được công nhận là tài sản trong khuôn khổ pháp lý Việt Nam dưới hình thức dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử.[37] Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam phát hành TSMH phải đáp ứng điều kiện: (i) Được phát hành dựa trên tài sản cơ sở là tài sản thực, không bao gồm tài sản là chứng khoán, tiền pháp định; (ii) Chỉ được chào bán cho nhà đầu tư nước ngoài; và (iii) TSMH chỉ giao dịch giữa nhà đầu tư nước ngoài thông qua các tổ chức được cấp phép. [38]

Nhà đầu tư trong nước phải đưa TSMH về giao dịch tập trung tại tổ chức cung cấp dịch vụ do Bộ Tài Chính cấp phép để lưu ký, mua, bán tại Việt Nam. Sau 6 tháng kể từ khi tổ chức cung cấp dịch vụ đầu tiên được cấp phép, mọi giao dịch thực hiện không thông qua các tổ chức trên sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. [39]

Bên cạnh đó, để được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch TSMH, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về vốn, năng lực của cổ đông, quy trình nghiệp vụ…[40] Có thể thấy, Nghị quyết 05 đánh dấu một bước tiến quan trọng mang tính chiến lược trong việc tiếp cận và quản lý lĩnh vực công nghệ tài chính mới; thể hiện sự chủ động, quyết tâm của Việt Nam trong việc thử nghiệm, học hỏi và xây dựng khung pháp lý cho thị trường TSMH để khai thác tiềm năng của thị trường này một cách có kiểm soát và minh bạch.


[1] Khoản 4, Khoản 5 Điều 4 Luật Thuế GTGT 2024

[2] Điều 5 Luật Thuế GTGT 2024

[3] Điểm b Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT 2024

[4] Điểm c Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT 2024

[5] Điều 9 Luật Thuế GTGT 2024, sửa đổi bởi Điều 4 Luật số 90/2025/QH15

[6] Điều 14 và Điều 15 Luật Thuế GTGT, hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 181/2025/NĐ-CP 

[7] Điều 13 Luật Thuế GTGT 2024

[8] Điểm d Khoản 1 Điều 1 LDN 2025

[9] Khoản 3 Điều 1 LDN 2025

[10] Khoản 6 Điều 1 LDN 2025

[11] Điểm a khoản 17 Điều 1 LDN 2025

[12] Khoản 17 Điều 1 LDN 2025

[13] Khoản 4 Điều 1 LDN 2025

[14] Khoản 2 Điều 1 Luật số 85

[15] Điều 4 Luật số 85 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85

[16] Khoản 2 Điều 1 Luật số 85, Điều 2 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15

[17] Khoản 4 Điều 1 Luật số 85

[18] Khoản 1 Điếu 1 Luật số 85, sửa đổi bổ sung Điều 18 BLTTDS 2015; Khoản 4 Điều 1 Luật số 85, sửa đổi bổ sung Điều 37 BLTTDS 2015; Điều 357 BLTTDS; Khoản 1 Điều 2 Luật số 85, sửa đổi bổ sung Điều 24 Luật TTHC 2015; Khoản 5 Điều 2 Luật số 85, sửa đổi bổ sung Điều 32 Luật TTHC 2015; Điều 286 Luật TTHC 2015.

[19] Khoản 6 Điều 4 Nghị định 168

[20] Khoản 1 Điều 112 Nghị định 168

[21] Khoản 6 Điều 3 Nghị định 168

[22] Khoản 7 Điều 3 Nghị định 168

[23] Khoản 5 Điều 4 Nghị định 168

[24] Điều 2 Nghị định 104

[25] Điều 17 Nghị định 104

[26] Điều 48 Nghị định 104

[27] Khoản 14, 15 Điều 7 Nghị định 219

[28] Khoản 1 Điều 18, Điểm b Khoản 1 Điều 20,  Khoản 1 Điều 27 Nghị định 219

[29] Khoản 1 Điều 4 Nghị định 219

[30] Khoản 5 Điều  22 Nghị định 219

[31] Điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị định 226

[32] Điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định 226

[33] Khoản 1 Điều 1 Nghị định 226

[34] Khoản 4 Điều 2 Nghị định 226

[35] Khoản 5 Điều 2 Nghị định 226

[36] Điều 4, 5 Nghị định 230

[37] Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 05

[38] Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 05

[39] Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 05

[40] Điều 8 Nghị quyết 05

Chia sẻ:

  • Twitter
  • Facebook

Like this:

Like Loading...
  • Tweet

About DL & PARTNERS

What you can read next

[QUÝ II/2023] – CẬP NHẬT PHÁP LÝ
[QUÝ I/2020] CẬP NHẬT PHÁP LUẬT
[QUÝ I/2023] – CẬP NHẬT PHÁP LÝ

Leave a Reply Cancel reply

  • Tiếng Việt
  • English
  • Русский

© 2018 DL & Partners. All rights reserved.
Webmail

TOP
%d bloggers like this: