1. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/06/2025 (“Luật KHCN&ĐMST”) và Nghị định số 262/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KHCN&ĐMST về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số và các vấn đề chung (“Nghị định 262”)
Luật KHCN&ĐMST được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/10/2025, hướng dẫn bởi Nghị định 262 có hiệu lực từ ngày 14/10/2025 với một số điểm mới đáng chú ý bao gồm:
Lần đầu tiên hoạt động ĐMST được xây dựng khung pháp lý riêng và được điều chỉnh song song, gắn kết chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ. Đây là sự thay đổi căn bản trong tư duy lập pháp nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo trong toàn dân.
Đặc biệt, Luật KHCN&ĐMST đã xây dựng cơ chế cho việc thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Theo đó, chủ thể thực hiện, phê duyệt và quản lý nhiệm vụ KHCN&ĐMST sẽ được xem xét loại trừ trách nhiệm hình sự;[1] loại trừ trách nhiệm hành chính; miễn trách nhiệm dân sự và không phải hoàn trả kinh phí sử dụng đúng mục tiêu, phạm vi – trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm, kể cả khi nhiệm vụ không đạt mục tiêu đề ra.[2] Có thể thấy, trọng tâm quản lý nhà nước không còn là cách thức thực hiện, mà là kết quả nghiên cứu mang lại và tác động của nghiên cứu trên thực tiễn.
Luật bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động KHCN&ĐMST, đặc biệt, nghiêm cấm hành vi cố ý che giấu rủi ro khi nghiên cứu, thử nghiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên, môi trường, sức khỏe cộng đồng.[3] Hơn nữa, Luật còn quy định việc ghi nhận thông tin vi phạm về liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp tại Nền tảng số quản lý KHCN&ĐMST quốc gia nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của KHCN và ĐMST.[4]
Bên cạnh đó, Luật đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích tham gia hoạt động KHCN&ĐMST, điển hình là việc quy định rõ chi phí tài trợ cho nghiên cứu được tính vào chi phí được trừ thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”).[5] Đồng thời, việc khuyến khích ứng dụng dữ liệu lớn (big data) và AI đã thể hiện rõ bước chuyển mình, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực KHCN&ĐMST của Nhà nước.[6]
2. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/06/2025 (“Luật Thuế TNDN 2025”)
Luật Thuế TNDN 2025 chính thức có hiệu lực ngày 01/10/2025 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về phạm vi áp dụng, chính sách miễn, giảm và ưu đãi thuế TNDN, cụ thể:
Mở rộng diện chịu thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh thương mại điện tử hoặc nền tảng số theo nguyên tắc: xác định thu nhập chịu thuế là thu nhập có nguồn gốc từ Việt Nam, không phụ thuộc vào địa điểm kinh doanh.[7] Đồng thời, bổ sung các loại thu nhập chịu thuế như: chênh lệch do đánh giá lại tài sản doanh nghiệp khi có biến động về cấu trúc sở hữu, tổ chức, và tiền tài trợ, thưởng, phạt hợp đồng.[8]
Bên cạnh đó, Luật đã bổ sung các khoản thu nhập được miễn thuế như: thu nhập từ tiền lãi trái phiếu xanh;[9] thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu xanh lần đầu sau khi phát hành…[10]
Mặc dù mức thuế suất 20% vẫn áp dụng cho hầu hết các doanh nghiệp; tuy nhiên, Luật Thuế TNDN 2025 cũng thiết lập rõ mức thuế suất ưu đãi theo quy mô doanh thu: (i) 15% cho doanh nghiệp có doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng; và (ii) 17% cho doanh nghiệp có doanh thu từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng.[11] Lưu ý, cơ chế này không áp dụng cho công ty con hoặc công ty có quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi.[12]
Luật Thuế TNDN 2025 cũng đã bổ sung các ngành, nghề ưu đãi thuế TNDN: dự án đầu tư mang tính mạo hiểm phát triển công nghệ cao; ứng dụng công nghệ chiến lược, ươm tạo công nghệ cao và dịch vụ công nghệ số, an toàn thông tin mạng, chíp bán dẫn, trung tâm dữ liệu và AI….[13]
3. Nghị định số 274/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (“BHXH”) về chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp (“BHTN”); khiếu nại, tố cáo về BHXH (“Nghị định 274”)
Nghị định 274 chính thức có hiệu lực ngày 30/11/2025 đã làm rõ các trường hợp chậm đóng, trốn đóng và thời điểm chuyển từ hành vi chậm đóng sang trốn đóng BHXH.
Theo đó, thời điểm chuyển hành vi từ chậm đóng sang trốn đóng BHXH xác định như sau: (i) doanh nghiệp chưa đăng ký tham gia BHXH cho NLĐ; (ii) doanh nghiệp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn thực tế; và (iii) doanh nghiệp chậm đóng dù đã bị cơ quan BHXH đôn đốc.[14] Trường hợp doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng BHXH phải nộp thêm 0,03%/ngày, tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng.[15]
Đáng chú ý, Nghị định 274 đưa ra trường hợp mang tính chất bất khả kháng, mà theo đó việc chưa hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc, BHTN sẽ không bị coi là “trốn đóng” như: bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; các sự kiện bất khả kháng khác…[16]
4. Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/07/2024 quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và Nghị định số 104/2024/NĐ-CP ngày 31/07/2024 quy định về Quỹ phát triển đất (“Nghị định 291”)
Trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 được ban hành, Nghị định 103 và Nghị định 104 cần được sửa đổi, bổ sung để hướng dẫn thi hành và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, Nghị định 291 chính thức có hiệu lực kể từ ngày 06/11/2025 với những điểm mới đáng chú ý:
Thứ nhất, điều chỉnh cách thức tính tiền sử dụng đất (“TSDĐ”) khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (“GCN”) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền. Tùy vào trường hợp cụ thể mà hộ gia đình, cá nhân đó sẽ (i) không phải nộp TSDĐ, (ii) TSDĐ bằng 70% giá đất ở tại bảng giá đất hoặc giá đất hiện hành, (iii) hoặc bằng 100% theo bảng giá đất.[17]
Thứ hai, xác định nguyên tắc miễn, giảm TSDĐ: chỉ được miễn, giảm một lần trong hạn mức đất ở, loại bỏ miễn, giảm trong trường hợp đấu giá.[18] Nghị định 291 đã bổ sung cơ chế thu hồi TSDĐ đã miễn, giảm: được tính theo chính sách và giá đất tại thời điểm phải tính tiền, cộng thêm khoản tiền tương đương tiền chậm nộp, nhằm đảm bảo tính răn đe và hạn chế thất thoát ngân sách nhà nước.[19] Đồng thời, bổ sung chính sách giảm 50% TSDĐ nếu hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở khi bị Nhà nước thu hồi mà không đủ điều kiện được bồi thường và không có chỗ ở nào khác trong cùng xã.[20]
Nghị định 291 là bước tiến mới về việc hoàn thiện khung pháp lý tài chính trong lĩnh vực đất đai, không chỉ tháo gỡ vướng mắc mà còn tạo sự minh bạch, công bằng trong lĩnh vực khá phức tạp này.
5. Thông tư số 39/2025/TT-NHNN ngày 31/10/2025 quy định việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài của người cư trú là tổ chức (“Thông tư 39”)
Thông tư 39 chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2025 đã cho phép bên đi vay là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được sử dụng 01 (một) tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện một hoặc nhiều khoản vay nước ngoài.[21] Đồng thời, nếu như trước đây chỉ quy định mang tính nguyên tắc về căn cứ xác định thời hạn sử dụng tài khoản, thì Thông tư 39 đã bổ sung các tiêu chí nhằm xác định rõ thời hạn áp dụng tương ứng với từng đối tượng mở và sử dụng tài khoản cụ thể.[22]
Bên cạnh đó, cần đặc biệt lưu ý đối với việc điều chỉnh thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi Giấy phép mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài (“Giấy phép”) từ Thống đốc Ngân hàng nhà nước và Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối sang giao cho Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối.[23] Ngoài ra, Thông tư 39 đã bãi bỏ quy định về việc cấp lại Giấy phép, và bổ sung trường hợp Giấy phép đương nhiên hết hiệu lực khi văn phòng đại diện, chi nhánh ở nước ngoài ngừng hoạt động trước thời hạn ghi nhận trong Giấy phép.[24]
Có thể nói, Thông tư 39 đã và đang tiếp tục hoàn thiện quy định về quản lý tài khoản ngoại tệ, nhằm tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn cho hoạt động ngoại hối nhưng vẫn phải đảm bảo phù hợp với thực tiễn hoạt động quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.
[1] Điểm d Khoản 3 Điều 9 Luật KHCN&ĐMST
[2] Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 9 Luật KHCN&ĐMST
[3] Khoản 4 Điều 14 Luật KHCN&ĐMST
[4] Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 Nghị định 262
[5] Điều 35 Luật KHCN&ĐMST
[6] Khoản 2 Điều 20 Luật KHCN&ĐMST
[7] Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế TNDN 2025
[8] Điều 3 Luật Thuế TNDN 2025
[9] Trái phiếu xanh được hiểu là một loại trái phiếu Chính phủ được phát hành để đầu tư cho các dự án liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường (Khoản 1 Điều 21 Nghị định 95/2018/NĐ-CP)
[10] Khoản 10 Điều 4 Luật Thuế TNDN 2025
[11] Điều 10 Luật Thuế TNDN 2025
[12] Khoản 4 Điều 18 Luật Thuế TNDN 2025
[13] Khoản 2 Điều 12, Khoản 1 Điều 13, Điều 14 Luật Thuế TNDN 2025
[14] Điều 6 Nghị định 274
[15] Điều 3 Nghị định 274
[16] Điều 4 Nghị định 274
[17] Khoản 2 Điều 1 Nghị định 291
[18] Điểm a, b Khoản 5 Điều 1 Nghị định 291
[19] Điểm c Khoản 5 Điều 1 Nghị định 291
[20] Điểm a Khoản 7 Điều 1 Nghị định 291
[21] Khoản 3 Điều 3 Thông tư 39
[22] Điều 5 Thông tư 39
[23] Điều 8 Thông tư 39
[24] Điểm d Khoản 1 Điều 15 Thông tư 39
